Hướng dẫn thực hiện đấu thầu trong giai đoạn chuyển tiếp NĐ 63

Hướng dẫn, thực hiện, đấu thầu, trong, giai đoạn, chuyển tiếp

Hướng dẫn thực hiện hoạt động đấu thầu trong giai đoạn chuyển tiếp từ Nghị định 85 sang Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014

 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 6, ngày 26/11/2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2014. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (NĐ63) vừa được ban hành, có hiệu lực thi hành vào ngày 15/8/2014.

http://muasamcong.vn/danh-muc-tin/Detail/huong-dan-thuc-hien-hoat-dong-dau-thau-trong-giai-doan-chuyen-tiep

Bộ KH&ĐT kịp thời ban hành Văn bản số 4054/BKHĐT-QLĐT nhằm hướng dẫn thực hiện công tác đấu thầu trong giai đoạn chuyển tiếp

Ngay sau khi Chính phủ ban hành NĐ63, ngày 27/6/2014 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã ký ban hành Văn bản số 4054/BKHĐT-QLĐT (VB 4054) hướng dẫn thực hiện công tác đấu thầu trong giai đoạn chuyển tiếp nhằm bảo đảm sự thống nhất trong quá trình triển khai công tác này.

Theo VB 4054, đối với các gói thầu đã phê duyệt kế hoạch đấu thầu nhưng đến ngày 1/7/2014 chưa phát hành hồ sơ mời quan tâm (HSMQT), hồ sơ mời sơ tuyển (HSMST), hồ sơ mời thầu (HSMT), hồ sơ yêu cầu (HSYC) và đối với các gói thầu đã phát hành HSMQT, HSMST, HSMT, HSYC trước ngày 1/7/2014 thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 129 NĐ63.

Trong thời gian từ ngày 1/7/2014 đến ngày 15/8/2014, hoạt động đấu thầu được thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP, Nghị định số 68/2012/NĐ-CP, Quyết định số 50/2012/QĐ-TTg và các Thông tư số: 01/2010/TT-BKH, 02/2010/TT-BKH, 03/2010/TT-BKH, 04/2010/TT-BKH, 05/2010/TT-BKH, 06/2010/TT-BKH, 08/2010/TT-BKH, 09/2010/TT-BKH, 10/2010/TT-BKH, 11/2010/TT-BKH, 15/2010/TT-BKH, 17/2010/TT-BKH, 20/2010/TTLT-BKH-BTC, 21/2010/TT-BKH, 01/2011/TT-BKHĐT, 09/2011/TT-BKHĐT nhưng bảo đảm không trái với quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.

Kể từ ngày 15/8/2014, trong thời gian các Thông tư nêu trên chưa được sửa đổi, bổ sung thì hoạt động đấu thầu được thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, NĐ63 và các Thông tư nêu trên nhưng bảo đảm không trái với quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và NĐ63.

VB 4054 được ban hành rất kịp thời đã đáp ứng mong mỏi của cộng đồng nhà thầu, chủ đầu tư, bên mời thầu, cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu và các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác đấu thầu, nhằm bảo đảm hoạt động đấu thầu được thực hiện thuận lợi, thông suốt và hiệu quả.

cong van 4054 chuyen tiep

Khoản 1 Điều 129 NĐ63 quy định về hướng dẫn thi hành như sau:

Đối với những gói thầu đã phê duyệt kế hoạch đấu thầu nhưng đến ngày 1/7/2014 chưa phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, nếu không phù hợp với Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 thì phải phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu.

Đối với hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được phát hành trước ngày 1/7/2014 thì thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009, Nghị định số 68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 của Chính phủ, Quyết định số 50/QĐ-TTg ngày 9/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ và các thông tư liên quan.

 

Một số nội dung mới cơ bản trong Luật đầu thầu số 43/2013/QH13 Ngày 26/11/2013

thông báo mời thầu tt du lieu du phong

Một số nội dung mới cơ bản trong Luật đầu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 có hiệu lực từ 01/7/2014

1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1 Luật đấu thầu)

 Ngoài phạm vi điều chỉnh nêu trong Luật đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu còn điều chỉnh các hoạt động mua sắm khác, như sau:

- Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: (không phân biệt nguồn vốn):

-  Hoạt động mua sắm sử dụng vốn nhà nước nhằm cung cấp cấp sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công.

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở pháp điển hóa Nghị định số 31/2005/NĐ-CPngày 11/3/2005 của Chính phủ, Quyết định số 256/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, thực tế trong quá trình triển khai thực hiện các hoạt động này không gặp khó khăn, vướng mắc.

-    Mua hàng dự trữ quốc gia sử dụng vốn nhà nước;

-    Mua thuốc, vật tư y tế sử dụng vốn nhà nước; nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập:

Thuốc chữa bệnh là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của người dân, kinh phí dùng để mua thuốc chữa bệnh được lấy chủ yếu từ quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu viện phí, tiền mua thuốc của bệnh nhân và một số nguồn thu khác (trong đó nguồn vốn từ ngân sách nhà nước dùng cho mua thuốc chữa bệnh không lớn). Khái niệm vốn nhà nước không bao gồm quỹ bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, trong khi hoạt động mua thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng từ các nguồn này. Do đó, trong Luật đấu thầu đã bổ sung một Mục quy định riêng về mua thuốc cho các cơ sở y tế sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, nguồn quỹ bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, trong đó có quy định về các hình thức lựa chọn nhà thầu (bao gồm cả hình thức đàm phán giá), quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, điều kiện xét duyệt trúng thầu, mua thuốc tập trung và thanh toán chi phí mua thuốc cho các cơ sở y tế ngoài công lập nếu được chi trả từ nguồn bảo hiểm y tế.

-    Lựa chọn nhà thầu thực hiện cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoàicủa doanh nghiệp Việt Nam mà dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án.

Đối với dự án FDI có sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp nhà nước cần quy định nguyên tắc việc áp dụng đấu thầu trong Luật; các dự án có sử dụng một phần vốn nhà nước mua sắm thiết bị, hàng hóa… trên lãnh thổ Việt Nam để thực hiện dự án đối với nước tiếp nhận thì phải tuân thủ quy định Luật đấu thầu của Việt Nam, phần còn lại thực hiện ở nước ngoài thì áp dụng theo Hiệp định mà Việt Nam ký kết với nước tiếp nhận đầu tư và pháp luật nước đó.

-    Hoạt động đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất.

Luật đấu thầu quy định về lựa chọn nhà đầu tư nhằm phục vụ cho việc triển khai đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP, khuyến khích, thu hút nguồn lực tư nhân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhiệm vụ tái cấu trúc đầu tư công, tái cấu trúc nền kinh tế. Nội dung này được xây dựng trên cơ sở pháp điển hóa các nội dung liên quan đến lựa chọn nhà đầu tư quy định tại Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ, Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT ngày 27/01/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

-Đối với trường hợp lựa chọn nhà thầu cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn để bảo đảm tính liên tục cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp nhà nước; thực hiện gói thầu thuộc dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất của nhà đầu tư được lựa chọn thì doanh nghiệp phải ban hành quy định về lựa chọn nhà thầu để áp dụng thống nhất trong doanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm mục tiêu công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

quoc hoi thong qua luat dau tu cong va luat xay dung Luật đầu tư công

2. Hệ thống dữ liệu về đấu thầu (Điểm d Khoản 1 Điều 5 Luật đấu thầu)

Hiện nay, hệ thống dữ liệu về đấu thầu của Việt Nam còn nghèo nàn, chưa được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên các thông tin về chủ đầu tư, bên mời thầu, nhà thầu trong nước, nước ngoài và các dữ liệu liên quan đến hoạt động đấu thầu. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc theo dõi, quản lý hoạt động đấu thầu cũng như xây dựng chính sách đấu thầu, đồng thời không tạo điều kiện để minh bạch hóa thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát cộng đồng. Nhằm khắc phục hạn chế này, Luật đấu thầu bổ sung quy định về xây dựng hệ thống dữ liệu về đấu thầu để góp phần công khai, minh bạch hóa thông tin liên quan đến hoạt động đấu thầu. Theo đó, tại Điều 5 về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư bổ sung thêm điều kiện “đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia”.

3. Ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo cơ hội cho nhà thầu trong nước trúng thầu và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước

3.1. Yêu cầu nhà thầu nước ngoài liên danh hoặc sử dụng nhà thầu phụ Việt Nam (Điều 5 Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu đưa ra quy định yêu cầu nhà thầu nước ngoài khi tham dự thầu quốc tế tại Việt Nam phải liên danh hoặc ký hợp đồng với nhà thầu phụ Việt Nam. Nhà thầu nước ngoài chỉ được phép sử dụng lao động nước ngoài khi lao động trong nước không đủ khả năng thực hiện và không đáp ứng yêu cầu của gói thầu theo quy định của pháp luật.

Quy định nêu trên nhằm tiếp tục khẳng định chính sách ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước đồng thời từng bước giúp nhà thầu Việt Nam tiếp nhận công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tự chủ, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh để tiến tới trở thành nhà thầu độc lập thực hiện các gói thầu lớn, công nghệ cao, phức tạp không chỉ tại thị trường Việt Nam mà cả trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, Luật đấu thầu (Điều 15) quy định việc tổ chức đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà thầu chỉ được thực hiện khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: (a) Nhà tài trợ vốn cho gói thầu có yêu cầu tổ chức đấu thầu quốc tế; (b) Gói thầu mua sắmhàng hóa mà hàng hóa đó trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, giá. Trường hợp hàng hóa thông dụng, đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam thì không tổ chức đấu thầu quốc tế; (c) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp, hỗn hợp mà nhà thầu trong nước không có khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu; (d) Đấu thầu quốc tế đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất, trừ trường hợp hạn chế đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

3.2. Ưu đãi nhà thầu và hàng hóa trong nước (Điều 14 Luật đấu thầu)

- Nhà thầu được hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu trong nước hoặc đấu thầu quốc tế để cung cấp hàng hóa mà hàng hóa đó có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ từ 25% trở lên.

- Đối tượng được hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu quốc tế để cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp bao gồm: (a) Nhà thầu trong nước tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh; (b) Nhà thầu nước ngoài liên danh với nhà thầu trong nước mà nhà thầu trong nước đảm nhận từ 25% trở lên giá trị công việc của gói thầu.

- Nhà thầu là doanh nghiệp nhỏ hoặc nhà thầu có từ 25% trở lên số lượng lao động là nữ giới; thương binh, người khuyết tật hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu trong nước để cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp

4. Thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư (Điều 12 Luật đấu thầu)

Để hoạt động đầu thầu được triển khai theo đúng tiến độ của dự án và phù hợp với thực tế thực hiện của các Bộ, ngành và địa phương, Luật đấu thầu đã sửa đổi quy định hiện hành theo hướng xác định thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu phù hợp với quy mô, tính chất của từng gói thầu. Theo đó, gói thầu quy mô nhỏ, gói thầu do cấp xã, phường thực hiện, gói thầu có sự tham gia của cộng đồng sẽ có thời gian tổ chức thực hiện ngắn hơn so với các loại gói thầu còn lại.

5. Điều kiện đối với các bên tham gia hoạt động đấu thầu (Điều 16 Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu đã quy định cụ thể hơn về điều kiện đối với các bên tham gia hoạt động đấu thầu, cụ thể như sau:

- Cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu phải có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu và có trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của gói thầu, dự án, trừ cá nhân thuộc nhà thầu, nhà đầu tư.

- Cá nhân tham gia trực tiếp vào việc lập hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất thuộc tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị hoạt động tư vấn đấu thầu, ban quản lý dự án chuyên nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu.

Lý do bổ sung quy định như trên là vì đấu thầu được coi như là một nghề, người hành nghề ngoài việc hiểu biết kiến thức cơ bản thì còn phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ nên cần quy định về chứng chỉ hành nghề để tạo cơ sở pháp lý trong quá trình triển khai thực hiện, đồng thời tăng cường tính chuyên môn, chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề khi tham gia hoạt động đấu thầu.

6. Chỉ định thầu (Điều 22 Luật đấu thầu)

Cần phải tạo môi trường thuận lợi tối đa nhằm thu hút nhà đầu tư tư nhân bỏ vốn tham gia đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước; việc lựa chọn nhà đầu tư để thực hiện các dự án PPP cần phải được thông thoáng, linh hoạt, giảm thiểu các thủ tục hành chính. Do đó, để đạt được mục tiêu nêu trên thì nội dung về chỉ định thầu đối với nhà đầu tư quy định như sau: (a) Chỉ có một nhà đầu tư đăng ký thực hiện; (b) Chỉ có một nhà đầu tư có khả năng thực hiện do liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, công nghệ hoặc thu xếp vốn; (c) Nhà đầu tư đề xuất dự án đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án khả thi và hiệu quả cao nhất theo quy định của Chính phủ

7. Chào hàng cạnh tranh và mua sắm trực tiếp (Điều 23, 24 Luật đấu thầu)

Đối với hình thức chào hàng cạnh tranh (Điều 23) bổ sung thêm trường hợp được áp dụng, đó là gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản; gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt.

Đối với hình thức mua sắm trực tiếp (Điều 24) bổ sung thêm điều kiện áp dụng như sau: Gói thầu có nội dung, tính chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% so với gói thầu đã ký hợp đồng trước đó; thời hạn từ khi ký hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp không quá 12 tháng. Ngoài ra có 1 nội dung bổ sung thêm theo hướng linh hoạt hơn đó là trường hợp nhà thầu thực hiện hợp đồng trước đó không có khả năng tiếp tục thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì được áp dụng mua sắm trực tiếp đối với nhà thầu khác nếu đáp ứng các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật và giá theo hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó.

8. Kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầu; lựa chọn nhà đầu tư; lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng (Chương III, Chương VI, Chương VII Luật đấu thầu)

 

Luật đấu thầu đã sửa đổi một số quy định hiện hành nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đấu thầu theo tinh thần Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 của Chính phủ quy định về việc đơn giản hoá 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, ngànhvà Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ quy định về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đồng thời quy định cụ thể hơn về các quy trình lựa chọn nhà thầu trong từng trường hợp cụ thể, gồm: (a) quy trình lựa chọn nhà thầu đối với dự án; (b) quy trình lựa chọn nhà thầu đối với mua sắm thường xuyên; (c) quy trình lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu tập trung; (d) quy trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế; (đ) quy trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng; và (e) quy trình lựa chọn nhà đầu tư.

9. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu (Điều 39, 58 Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu quy định rõ phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu theo từng lĩnh vực cụ thể: lựa chọn nhà thầu (dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp); lựa chọn nhà đầu tư.

Mặt khác, Luật đấu thầu đã bổ sung một số phương pháp mới trong đánh giá hồ sơ dự thầu. Cụ thể như sau:

- Đối với gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp: ngoài phương phápgiá đánh giá thấp nhất đã được quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu bổ sung hai phương pháp đánh giá mới là phương pháp giá thấp nhất và phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá;

- Đối với gói thầu tư vấn: ngoài phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và tài chính, phương pháp dựa trên kỹ thuật đã được quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu bổ sung thêm hai phương pháp đánh giá mới là phương pháp giá thấp nhất và phương pháp giá cố định.

Việc bổ sung quy định về phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm đa dạng hóa các phương pháp đánh giá khác nhau phù hợp với từng loại hình và quy mô của gói thầu, đồng thời khắc phục tình trạng bỏ thầu giá thấp nhưng không đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu.

10. Phương thức lựa chọn nhà thầu và nhà đầu tư (Mục 2 Chương II Luật đấu thầu)

Để tạo thuận lợi và linh hoạt trong việc áp dụng phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, Luật đấu thầu đã quy định 4 phương thức bao gồm:phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ, phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ, phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Đối với phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn,dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp (Luật đấu thầu năm 2005 chỉ áp dụng cho dịch vụ tư vấn) thì chỉ nhà thầu nào đáp ứng về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật mới được mở hồ sơ đề xuất về tài chính để xem xét, so sánh, xếp hạng. Với phương thức này nếu nhà thầu bỏ giá thầu thấp nhưng năng lực, kinh nghiệm và kỹ thuật không đáp ứng sẽ bị loại trước khi mở hồ sơ đề xuất về tài chính.

 

11. Lựa chọn nhà thầu trong mua sắm tập trung (Mục 1 Chương V Luật đấu thầu)

Trên cơ sở tổng hợp các thông lệ quốc tế tốt và kết quả thí điểm thực hiện tại Việt Nam, Luật đấu thầu bổ sung hình thức mua sắm tập trung để áp dụng rộng rãi trong công tác đấu thầu. Theo hình thức này, thay vì tổ chức mua sắm ở hàng trăm cơ quan khác nhau thì cơ quan mua sắm tập trung sẽ chịu trách nhiệm tổ chức mua sắm chuyên nghiệp một lần. Hình thức này không chỉ giúp tăng tính chuyên nghiệp trong hoạt động mua sắm mà còn tạo điều kiện nâng cao hiệu quả, rút ngắn thời gian và chi phí tổ chức mua sắm, đồng thời hỗ trợ phát triển sản xuất trong nước và khuyến khích nhà thầu nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra việc áp dụng thỏa thuận hợp đồng khung trong mua sắm tập trung và việc hình thành các tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp cho hợp lý sẽ giúp tăng hiệu quả kinh tế – xã hội của công tác đấu thầu, phát triển sản xuất trong nước.

Việc mua sắm tập trung được thực hiện theo một trong 2 cách sau đây:

a) Đơn vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ;

b) Đơn vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, ký văn bản thỏa thuận khung với một hoặc nhiều nhà thầu được lựa chọn làm cơ sở để các đơn vị có nhu cầu mua sắm trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

12. Lựa chọn nhà thầu trong mua sắm thường xuyên (Mục 2 Chương V Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu bổ sung một số nguyên tắc chính và quy trình tổng quát trong mua sắm thường xuyên nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý của quy định này, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật về đấu thầu (hiện tại vấn đề này chỉ được quy định trong Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26/4/2012 của Bộ Tài chính quy định về việc đấu thầu để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân); đồng thời phân cấp trong đấu thầu mua sắm thường xuyên được quy định cụ thể hơn để tăng cường trách nhiệm giải trình, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

13. Lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế (Mục 3 Chương V Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu (Chương V Mục 3) có một nội dung mới đó là bổ sung thêm 1 Mục về lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế, trong đó có quy định về hình thức đàm phán giá. Đây là hình thức mới chỉ áp dụng đối với gói thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế và được áp dụng đối với gói thầu mua thuốc chỉ có từ một đến hai nhà sản xuất; thuốc biệt dược gốc, thuốc hiếm, thuốc trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặc thù khác.

Ngoài ra việc mua thuốc cũng được áp dụng theo hình thức đấu thầu tập trung và được thực hiện ở cấp quốc gia và cấp địa phương.

Về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong đấu thầu thuốc, vật tư y tế, Luật đấu thầu quy định: (1) Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành danh mục thuốc đấu thầu; danh mục thuốc đấu thầu tập trung; danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá.(2) Chính phủ quy định trách nhiệm của các bộ, ngành trong đấu thầu thuốc, vật tư y tế và việc công khai giá thuốc, vật tư y tế theo kết quả lựa chọn nhà thầu.

  1. Lựa chọn nhà đầu tư (Chương VI Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thủ tục, phương pháp lựa chọn nhà đầu tư trên cơ sở tổng hợp các thông lệ quốc tế tốt và rút kinh nghiệm từ thực tiễn lựa chọn nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam trong thời gian qua. Đi đôi với giải pháp triển khai quyết liệt để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công, quy định này góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thu hút, lựa chọn nhà đầu tư một cách minh bạch, cạnh tranh; xây dựng niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Các quy định về lựa chọn nhà đầu tư bao gồm: kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư, quy trình lựa chọn nhà đầu tư; trình, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư, hồ sơ mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và kết quả lựa chọn nhà đầu tư; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; xét duyệt trúng thầu trong lựa chọn nhà đầu tư.

Riêng đối với phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu bao gồm phương pháp giá dịch vụ, phương pháp vốn góp của Nhà nước, phương pháp lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước và phương pháp kết hợp

15. Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng (Điều 60 Luật đấu thầu)

Trên cơ sở kết quả thí điểm thực hiện thành công hoạt động đấu thầu qua mạng trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012, Luật đấu thầu bổ sung quy định về đấu thầu qua mạng nhằm minh bạch hóa và đơn giản hóa thủ tục đấu thầu, đồng thời thực hiện đầy đủ cam kết với cộng đồng quốc tế về quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tăng cường hiệu quả của hoạt động đấu thầu.

Các nội dung được thực hiện trên mạng đấu thầu quốc gia bao gồm: (a) Đăng tải thông tin về đấu thầu; (b) Đăng tải hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; (c) Nộp bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thỏa thuận liên danh; (d) Nộp, rút hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; (đ) Mở thầu; (e) Đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; (g) Ký kết, thanh toán hợp đồng; (h) Các nội dung khác có liên quan.

16. Hợp đồng (Chương VIII Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu đã quy định một số nội dung về hợp đồng theo hướng chỉ quy định về một số nội dung chính, mang tính nguyên tắc của hợp đồng có liên quan đến việc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; các nội dung cụ thể khác sẽ được quy định trong các Nghị định, Thông tư hướng dẫn mẫu hồ sơ mời thầu theo từng lĩnh vực chuyên ngành để phù hợp với đặc thù riêng của từng loại hợp đồng do các luật chuyên ngành quy định. Khi lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật này thì loại hợp đồng trọn gói phải là loại hợp đồng cơ bản có thể áp dụng cho tất cả các loại gói thầu.

Việc quy định hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản sẽ có những ưu điểm như: giá hợp đồng là cố định nên thuận lợi cho việc xác định và phân bổ kế hoạch vốn; việc quản lý chi phí đơn giản, thuận tiện góp phần cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, việc áp dụng loại hợp đồng này một cách rộng rãi cũng sẽ có một số nhược điểm như: không linh hoạt trong trường hợp có phát sinh hợp lý khi phải thay đổi thiết kế; đòi hỏi hồ sơ thiết kế phục vụ đấu thầu phải có độ chính xác cao; không khả thi trong trường hợp thị trường vật tư, vật liệu có biến động lớn bất thường (như thời điểm năm 2007, 2008). Ngoài ra, do giá hợp đồng trọn gói cần tính toán đầy đủ cả các chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá và phát sinh khối lượng nên sẽ tạo ra tình trạng giá ảo do nhà thầu tham dự đấu thầu luôn chào giá ở mức cao để tránh rủi ro[1]. Do vậy, trong Luật đấu thầu, bên cạnh loại hợp đồng trọn gói là chủ đạo, Luật cần quy định các loại hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh và hợp đồng theo thời gian.

Khi thực hiện lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật này chỉ được phép áp dụng 4 loại hợp đồng quy định tại Điều 62 Luật đấu thầu, bao gồm: hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, hợp đồng theo thời gian.

17. Phân cấp trách nhiệm trong đấu thầu (Chương IX Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu tiếp tục giao người quyết định đầu tư (người có thẩm quyền), chủ đầu tư chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình tổ chức lựa chọn và thực hiện gói thầu. Tuy nhiên, khác với quy định của Luật đấu thầu năm 2005, Luật đấu thầu đã phân cấp triệt để việc quyết định hình thức chỉ định thầu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp mà không yêu cầu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Tuy nhiên, để việc phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình, tránh khép kín trong đấu thầu, Luật đấu thầu đã bổ sung quy định về trách nhiệm giải trình của người có thẩm quyền, chủ đầu tư trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. (xem Khoản 1, 11 Điều 73; Điều 82 và Khoản 6 Điều 84 Luật đấu thầu).

Riêng đối với người có thẩm quyền (Điều 73) có thêm trách nhiệm điều chỉnh nhiệm vụ và thẩm quyền của chủ đầu tư trong trường hợp chủ đầu tư không đáp ứng quy định của pháp luật về đấu thầu và các yêu cầu của dự án, gói thầu; có ý kiến đối với việc xử lý tình huống trong trường hợp phức tạp theo đề nghị của chủ đầu tư (Điểm a Khoản 7 Điều 73 Luật đấu thầu).

  1. Giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu (Chương XI Luật đấu thầu)

Luật đấu thầu bổ sung trách nhiệm về giám sát của người có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu, tuy nhiên riêng đối với người có thẩm quyền thì việc giám sát hoạt động đấu thầu là công việc mang tính thường xuyên nhằm đảm bảo quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cá nhân đối với từng hoạt động trong quá trình đấu thầu để có cơ sở quy định chế tài xử lý vi phạm tương ứng với từng hành vi vi phạm.Mặt khác, nhằm tăng cường chế tài xử lý vi phạm trong đấu thầu, Luật đấu thầu quy định rõ các nhóm hành vi bị cấm trong đấu thầu như sau:

1. Đưa, nhận, môi giới hối lộ

2. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động đấu thầu

3. Thông thầu

4. Gian lận

5. Cản trở

6. Không bảo đảm công bằng, minh bạch

7. Tiết lộ, tiếp nhận những tài liệu, thông tin sau đây về quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư

8. Chuyển nhượng thầu

9. Tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định dẫn tới tình trạng nợ đọng vốn của nhà thầu

Đồng thời Luật đấu thầu quy định thêm biện pháp xử phạt đối với cá nhân được giao trách nhiệm xử phạt nhưng không tuân thủ quy định, các biện pháp phạt bổ sung như đăng tải công khai các tổ chức, cá nhân vi phạm trên phương tiện thông tin đại chúng, buộc phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định.

Ngoài ra, Luật đấu thầu bổ sung quy định người có thẩm quyền có quyền nhất định về xử phạt trong quan hệ kinh tế, dân sự như đối với quan hệ hành chính. Cơ chế ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư cần được quy định trong Luật Đấu thầu cũng như trong các luật về hình sự, dân sự, xử lý vi phạm hành chính hiện hành. Do vậy, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Luật đấu thầuphải quy định nguyên tắc chung về xử lý vi phạm trong đấu thầu như sau: người nào có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự; trường hợp các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại.

Đồng thời, để tăng tính phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả hơn các hành vi vi phạm trong đấu thầu, Luật đấu thầucần bổ sung quy định hình thức xử phạt trong mối quan hệ kinh tế, dân sự, cụ thể là: người có thẩm quyền có quyền quyết định cấm tham gia hoạt động đấu thầu đối với các dự án do mình quyết định đầu tư; trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cấm tham gia hoạt động đấu thầu trong phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương hoặc đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành quyết định cấm tham gia hoạt động đấu thầu trên phạm vi cả nước và trong tất cả các ngành.

19. Giải quyết kiến nghị trong đấu thầu (Mục 1 Chương XII Luật đấu thầu)

Cơ chế giải quyết kiến nghị quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005 vẫn còn nặng về thủ tục hành chính, chưa thật sự đem lại hiệu quả, chưa đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhà thầu – một bên tham gia đấu thầu. Quá trình đấu thầu theo phân cấp từ khâu lập hồ sơ mời thầu đến ký hợp đồng phần lớn đều do bên mời thầu, chủ đầu tư tổ chức thực hiện. Việc để bên mời thầu (đối với dự án) tham gia giải quyết kiến nghị của nhà thầu sẽ có thể dẫn đến không đảm bảo khách quan, công bằng và thường các nhà thầu không đồng ý với kết quả giải quyết kiến nghị mà bên mời thầu đưa ra.

Từ thực tế nêu trên, Luật đấu thầu đã lược bỏ cấp bên mời thầu (đối với dự án) tham gia giải quyết kiến nghị của nhà thầu nhằm giảm thiểu thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi kết quả giải quyết kiến nghị và tăng cường hiệu quả của công tác giải quyết kiến nghị trong đấu thầu. Ngoài ra tại khoản 2 Điều 91 Luật đấu thầu bổ sung thêm quy định: Nhà thầu, nhà đầu tư đã khởi kiện ra Tòa án thì không gửi kiến nghị đến bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền. Trường hợp đang trong quá trình giải quyết kiến nghị mà nhà thầu, nhà đầu tư khởi kiện ra Tòa án thì việc giải quyết kiến nghị được chấm dứt ngay.

20. Giải quyết tranh chấp trong đấu thầu tại tòa án(Mục 2 Chương XII Luật đấu thầu)

Theo thông lệ quốc tế, việc giải quyết kiến nghị trong đấu thầu được thực hiện bởi một cơ quan hành chính hoặc tư pháp độc lập cũng như cần có cơ chế cho phép áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết kiến nghị trong đấu thầu. Tại thời điểm hiện nay, ở Việt Nam chưa có cơ quan hành chính độc lập mà chỉ có cơ quan tư pháp độc lập là tòa án, tuy nhiên lại chưa có quy định rõ ràng về việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự hay hành chính để giải quyết kiến nghị trong đấu thầu tại tòa án. Do vậy, Luật đấu thầu bổ sung quy định về việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự khi giải quyết kiến nghị trong đấu thầu tại tòa án. Việc Luật đấu thầu quy định về nguyên tắc giải quyết, quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm giúp cho các nhà thầu, đặc biệt là những nhà thầu nước ngoài chưa hiểu biết nhiều về pháp luật Việt Nam dễ dàng tra cứu, tiếp cận trong quá trình tham dự thầu.

 

Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 áp dụng từ 01/7/2014

quoc hoi thong qua luat dau tu cong va luat xay dung Luật đầu tư công

Giới thiệu Luật đấu thầu số 43/2013/QH13

Ngày 26/11/2013, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 (Sau đây gọi là Luật đấu thầu). Luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 20/2013/L-CTN ngày 09/12/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014.

quoc hoi thong qua luat dau tu cong va luat xay dung Luật đầu tư công

Tải file Luật đấu thầu tại đây: http://trungtamdauthau.com/wp-content/uploads/2014/07/43.2013.QH13-Luat-dau-thau.doc

 

  1. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT ĐẤU THẦU

 

Việc ban hành Luật đấu thầu năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành hai Luật này đã góp phần thiết lập môi trường minh bạch, cạnh tranh cho các hoạt động đấu thầu phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở để chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ, công trình, giúp tiết kiệm nguồn vốn có hạn của nhà nước.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, hoạt động đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước cũng bộc lộ một số bất cập, thể hiện nổi bật trên các mặt như: tính chuyên môn, chuyên nghiệp trong hoạt động đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở một số địa phương; chất lượng, hiệu quả thực hiện một số công việc chuẩn bị cho hoạt động đấu thầu chưa cao; vấn đề quản lý sau đấu thầu chưa được thực hiện thường xuyên và chưa được quan tâm đúng mức… Một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước là do những hạn chế của hệ thống pháp luật về đấu thầu, cụ thể như sau:

  1. Các quy định về đấu thầu còn tản mạn, thiếu tính đồng bộ và thống nhất. Lĩnh vực đấu thầu bị chia nhỏ, quản lý không tập trung do được quy định rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau gây nên tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn bản, gây khó khăn trong quá trình thực hiện, cụ thể:

-      Đấu thầu lựa chọn nhà thầu: được quy định tại Luật đấu thầu, Luật xây dựng và Luật sửa đổi một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản (Luật số 38/2009/QH12);

-      Đấu thầu theo phương thức mua sắm tập trung: được quy định tại Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung, Thông tư số 22/2008/TT-BTC ngày 10/3/2008 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung ban hành kèm theo Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg;

-      Đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công: được quy định tại Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước;

-      Đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích: được quy định tại Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ban hành ngày 11/3/2005 của Chính phủ quy định về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích,Quyết định số 256/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch thực hiện sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích (đã được thay thế bằng Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2003 của Chính phủ).

Xuất phát từ thực tế nêu trên, cần ban hành Luật đấu thầu với tư cách là luật chung, pháp điển hóa các nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định về hoạt động đấu thầu, khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng một lĩnh vực và bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật.

  1. Phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu năm 2005 còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhiều hoạt động mua sắm sử dụng nguồn vốn nhà nước đã phát sinh trong thời gian qua. Trên thực tế, các hoạt động nhằm mục đích công như cung cấp dịch vụ công ích nhưng không hình thành dự án; hoạt động sử dụng vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài; hoạt động đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư để thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) và dự án sử dụng đất chưa được quy định cụ thể. Do vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu cần bổ sung những nội dung nêu trên.
  2. Việc phân cấp trong hoạt động đấu thầu mua sắm tài sản cho cơ quan nhà nước chưa được quy định cụ thể như đối với dự án đầu tư; thủ tục trình duyệt chưa được tinh giản làm mất nhiều thời gian tổ chức hoạt động đấu thầu.
  3. Việc đánh giá hồ sơ dự thầu theo phương pháp giá đánh giá thấp nhất quy định tại Luật đấu thầu năm 2005 là phương pháp tiên tiến, phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng chưa tính đến điều kiện cụ thể của Việt Nam nên trong một số trường hợp khó áp dụng. Vì vậy, cần bổ sung thêm các phương pháp đánh giá mới để tạo tính chủ động, linh hoạt cho chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu có quy mô, tính chất khác nhau.
  4. Cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động đấu thầu chưa được quy định cụ thể, chặt chẽ. Thực tế cho thấy, một số hành vi lách luật hoặc không tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật đấu thầu đã phát sinh trong thời gian qua, nhưng chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh và chưa đầy đủ đối với tất cả các bên tham gia hoạt động đấu thầu; cơ chế giải quyết kiến nghị trong đấu thầu chưa hợp lý và chưa rõ ràng trong trường hợp giải quyết tranh chấp tại tòa án.
  5. Hệ thống dữ liệu về đấu thầu còn nghèo nàn, gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu trong quá trình theo dõi, quản lý hoạt động đấu thầu cũng như xây dựng chính sách đấu thầu, đồng thời không tạo điều kiện để minh bạch hóa thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát cộng đồng, đặc biệt khi thực hiện chủ trương phân cấp mạnh và hướng đến thực hiện thủ tục đấu thầu qua mạng.
  6. Chưa đáp ứng yêu cầu của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp

Trong Báo cáo về rà soát pháp luật kinh doanh (rà soát 16 Luật và gần 200 văn bản dưới luật có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp trong đó có Luật đấu thầu năm 2005, với sự tham gia của hơn 2000 lượt doanh nghiệp chuyên gia, 182 tham luận và 879 kiến nghị) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện năm 2011 đã kiến nghị: “pháp điển hóa các quy định liên quan lựa chọn nhà thầu trong các hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và Luật xây dựng cũng như trong các quy định liên quan đến lựa chọn nhà thầu”; sửa đổi, bổ sung Luật đấu thầu theo hướng Luật chung để điều chỉnh toàn bộ hoạt động đấu thầu, “các luật khác như Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật thương mại chỉ quy định những nội dung quản lý đặc thù trong từng lĩnh vực, không quy định lại quy trình, các nội dung chung trong Luật đấu thầu”.

Với những lý do nêu trên, việc xây dựng Luật đấu thầu là yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về mua sắm sử dụng nguồn vốn nhà nước.


II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT ĐẤU THẦU

Luật đấu thầu được xây dựng trên cơ sở những quan điểm chủ yếu sau:

  1. Hoàn thiện chính sách đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước phù hợp với chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, trong đó thực hiện tái cơ cấu đầu tư công theo hướng duy trì tỷ trọng đầu tư công truyền thống ở mức hợp lý, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi, minh bạch nhằm thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng trên cơ sở cạnh tranh, từng bước nâng cao hiệu quả và đảm bảo tính dẫn dắt của các hoạt động đầu tư có sử dụng vốn nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực và của nền kinh tế.
  2. Tạo cơ sở pháp lý áp dụng đồng bộ, thống nhất chính sách đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong toàn bộ quá trình thực hiện các hoạt động này.
  3. Ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo cơ hội cho nhà thầu trong nước trúng thầu và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước.
  4. Kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu thầusử dụng nguồn vốn nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ các Hiệp định song phương, khu vực và đa phương.
  5. Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng vốn nhà nước

Để bảo đảm thống nhất quản lý việc chi tiêu, sử dụng vốn nhà nước thì hoạt động đấu thầu cần bảo đảm có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn. Để làm được điều này cần có sự chỉ đạo thống nhất từ các cấp cao nhất, tiếp đến là sự đồng thuận, thống nhất của các bộ, ngành, địa phương, tránh lợi ích cục bộ, không vì lợi ích toàn cục, lợi ích của người dân.

  1. Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu

Một trong những yếu tố để đạt được hiệu quả của công tác đấu thầu là phải bảo đảm được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Trong hoạt động đấu thầu nói chung và công tác đấu thầu của Việt Nam nói riêng, mục tiêu cạnh tranh đang ngày càng được tăng cường, đặc biệt Luật đấu thầu đưa ra các nguyên tắc để tạo thuận lợi cho các nhà thầu trong nước tăng cường năng lực cạnh tranh để có thể vững vàng hội nhập, tham gia thị trường quốc tế.

  1. Công khai, minh bạch trong đấu thầu

Công khai, minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa là một trong những yêu cầu cần quán triệt.

Công khai trong đấu thầu có thể hiểu là sự không “che đậy, giấu giếm”, không bí mật vì lợi ích của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó mà cần thể hiện, bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người liên quan hoặc có quan tâm được biết.

  1. Đảm bảo công bằng trong đấu thầu

Đây là mục tiêu rất quan trọng trong đấu thầu. Trong quá trình thực hiện công tác đấu thầu, phải hết sức tôn trọng quyền lợi của các bên có liên quan. Tính công bằng trong đấu thầu được thể hiện thông qua việc các chủ thể tham gia đều phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu.

  1. Bảo đảm hiệu quả kinh tế của công tác đấu thầu

Hiệu quả của công tác đấu thầu chính là việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn của Nhà nước, đảm bảo việc mua sắm đúng và xứng đáng với đồng tiền bỏ ra. Việc sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn cho gói thầu, dự án và hiệu quả dài hạn về kinh tế – xã hội.

  1. Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu

Mục tiêu tiếp theo của Luật đấu thầu là loại trừ tham nhũng. Đây là mục tiêu vừa có tính lâu dài, vừa có tính cấp bách vì Việt Nam đã ký Công ước quốc tế về chống tham nhũng. Có thể nói rằng, tham nhũng là một trong những căn bệnh dễ nảy sinh trong quá trình lựa chọn nhà thầu vì công quỹ, tài sản là của Nhà nước, của chung, thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng giao thông có lượng vốn đầu tư thường rất lớn trong khi quản lý nhà nước còn lỏng lẻo.

  1. Đáp ứng yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đấu thầu

Cải cách thủ tục hành chính là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được triển khai thực hiện trong nhiều năm qua và thu được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực trong việc cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Việc sửa đổi theo hướng đơn giản hơn nữa các quy định mang tính quy trình, thủ tục trong đấu thầu nhằm đáp ứng các yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính quy định tại Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ.

 

III. BỐ CỤC VÀ CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐẤU THẦU

  1. Bố cục của Luật đấu thầu

 

Luật đấu thầu bao gồm 13 chương và 96 điều với kết cấu rõ ràng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong đấu thầu nghiên cứu, áp dụng, cụ thể như sau:

- Chương I. Quy định chung

Gồm 19 điều (từ Điều 1 đến Điều 19): Quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; áp dụng Luật đấu thầu, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; giải thích từ ngữ; tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư; bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu; điều kiện phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; thông tin về đấu thầu; ngôn ngữ sử dụng trong đấu thầu; đồng tiền dự thầu; bảo đảm dự thầu; thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; chi phí trong đấu thầu; ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu; đấu thầu quốc tế; điều kiện đối với cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu; các trường hợp hủy thầu; trách nhiệm khi hủy thầu và đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu.

- Chương II. Hình thức, phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư và tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp

Gồm 3 mục, 13 điều (từ Điều 20 đến Điều 32):

+ Mục 1. Hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, gồm 08 điều (từ Điều 20 đến Điều 27) quy định về đấu thầu rộng rãi; đấu thầu hạn chế; chỉ định thầu; chào hàng cạnh tranh; mua sắm trực tiếp; tự thực hiện; lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; tham gia thực hiện của cộng đồng;

+ Mục 2. Phương thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, gồm 04 điều (từ Điều 28 đến Điều 31) quy định về phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ; phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ;

+ Mục 3. Tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp,gồm 01 điều (Điều 32) quy định về tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp.

- Chương III. Kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầu

Gồm 06 điều (từ Điều 33 đến Điều 38): Quy định về nguyên tắc lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu; lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu; nội dung kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với từng gói thầu; trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; quy trình lựa chọn nhà thầu.

- Chương IV. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; xét duyệt trúng thầu

Gồm 05 điều (từ Điều 39 đến Điều 43): Quy định về phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn; phương pháp đánh giá hồ sơ đề xuất; xét duyệt trúng thầu đối với đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn và xét duyệt trúng thầu đối với đấu thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp.

- Chương V. Mua sắm tập trung, mua sắm thường xuyên, mua thuốc, vật tư y tế; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công

Gồm 4 mục, 11 điều (từ Điều 44 đến Điều 54):

+ Mục 1. Mua sắm tập trung, gồm 02 điều quy định (từ Điều 44 đến Điều 45): Quy định chung về mua sắm tập trung; thỏa thuận khung;

+Mục 2. Mua sắm thường xuyên, gồm 02 điều (từ Điều 46 đến Điều 47): Điều kiện áp dụng; tổ chức lựa chọn nhà thầu;

+ Mục 3. Mua thuốc, vật tư y tế, gồm 05 điều (từ Điều 48 đến Điều 52): Lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế; mua thuốc tập trung; ưu đãi trong mua thuốc; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong đấu thầu thuốc, vật tư y tế; thanh toán chi phí mua thuốc, vật tư y tế;

+ Mục 4. Cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gồm 2 Điều (từ Điều 53 đến Điều 54): hình thức lựa chọn nhà thầu; quy trình lựa chọn nhà thầu.

- Chương VI. Lựa chọn nhà đầu tư

Gồm 05 điều (từ Điều 55 đến Điều 59): Quy đinh về kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư; quy trình lựa chọn nhà đầu tư; trình, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư, hồ sơ mời sơ tuyển, kết quả sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và kết quả lựa chọn nhà đầu tư; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; xét duyệt trúng thầu trong lựa chọn nhà đầu tư.

- Chương VII. Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng

Gồm 02 điều (từ Điều 60 đến Điều 61): Quy định lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư qua mạng; yêu cầu đối với hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

- Chương VIII. Hợp đồng

Gồm 2 mục, 11 điều (từ Điều 62 đến Điều 72):

+ Mục 1. Hợp đồng với nhà thầu, gồm 06 điều (từ Điều 62 đến Điều 67): Quy định về loại hợp đồng; hồ sơ hợp đồng; điều kiện ký kết hợp đồng; hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn; bảo đảm thực hiện hợp đồng; nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng;

+ Mục 2. Hợp đồng với nhà đầu tư, gồm 05 điều (từ Điều 68 đến Điều 72): Quy định về loại hợp đồng; hồ sơ hợp đồng; điều kiện ký kết hợp đồng; hợp đồng với nhà đầu tư được lựa chọn; bảo đảm thực hiện hợp đồng.

- Chương IX. Trách nhiệm của các bên trong lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

Gồm 08 điều (từ Điều 73 đến Điều 80): Quy định về trách nhiệm của người có thẩm quyền; trách nhiệm của chủ đầu tư; trách nhiệm của bên mời thầu; trách nhiệm của tổ chuyên gia; trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư; trách nhiệm của tổ chức thẩm định; trách nhiệm của bên mời thầu tham gia hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

- Chương X. Quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu

Gồm 08 điều (từ Điều 81 đến Điều 88): Quy định về nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của tổ chức vận hành hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; xử lý tình huống; thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động đấu thầu và khiếu nại, tố cáo.

- Chương XI. Hành vi bị cấm và xử lý vi phạm trong đấu thầu

Gồm 02 điều (từ Điều 89 đến Điều 90): Quy định về các hành vi bị cấm trong đấu thầu và xử lý vi phạm.

- Chương XII. Giải quyết kiến nghị và tranh chấp trong đấu thầu

Gồm 2 mục, 04 điều (từ Điều 91 đến Điều 94):

+ Mục 1. Giải quyết kiến nghị trong đấu thầu, gồm 02 điều (tử Điều 91 đến Điều 92): Quy định về giải quyết kiến nghị trong đấu thầu và quy trình giải quyết kiến nghị;

+ Mục 2. Giải quyết tranh chấp trong đấu thầu tại tòa án, gồm 02 điều (từ Điều 93 đến Điều 94): Quy định về nguyên tắc giải quyết và quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Chương XIII. Điều khoản thi hành

Gồm 02 điều (từ Điều 95 đến Điều 96): Quy định về hiệu lực thi hành và quy định chi tiết.

 

Link down load Luật đấu thầu http://datafile.chinhphu.vn/file-remote-v2/DownloadServlet?filePath=vbpq/2013/12/43_dauthau.pdf

Nghị định về lựa chọn nhà thầu số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014

ban hanh nghi dinh ve lua chon nha thau 63 nghi dinh dau thau

Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (gọi tắt là NĐ 63) vừa được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2014.

 banhanhndveluachonhathau Nghị định số 63

Cùng với Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP sẽ tạo khung pháp lý đồng bộ, minh bạch và thống nhất chính sách đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước

Ảnh: Lê Tiên

Tải file Nghi định 63 tại đây: http://trungtamdauthau.com/wp-content/uploads/2014/07/63-2014-ND2014-trungtamdauthau.com_.pdf

Tải file Luật đấu thầu tại đây: http://trungtamdauthau.com/wp-content/uploads/2014/07/43.2013.QH13-Luat-dau-thau.doc

Theo đó, NĐ 63 gồm 15 Chương với 130 Điều (112 trang A4).

Về phạm vi điều chỉnh, NĐ 63 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 1 của Luật Đấu thầu. Đối với việc lựa chọn nhà thầu trong lĩnh vực dầu khí quy định tại Khoản 4 Điều 1 của Luật Đấu thầu áp dụng đối với dự án đầu tư phát triển quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều 1 của Luật Đấu thầu, trừ việc lựa chọn nhà thầu liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí.

Điều 1 của NĐ 63 cũng nêu rõ, trường hợp điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có quy định việc áp dụng thủ tục lựa chọn nhà thầu thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 3 của Luật Đấu thầu. Thủ tục trình, thẩm định và phê duyệt thực hiện theo quy định của NĐ 63. Trường hợp điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế không có quy định về việc áp dụng thủ tục lựa chọn nhà thầu, việc lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu và NĐ 63.

Theo quy định tại Điều 129 (Hướng dẫn thi hành) của NĐ 63 thì đối với những gói thầu đã phê duyệt kế hoạch đấu thầu nhưng đến ngày 1/7/2014 chưa phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, nếu không phù hợp với Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 thì phải phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu.

ban hanh nghi dinh ve lua chon nha thau 63 nghi dinh

Kể từ ngày Nghị định số 63/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (15/8/2014), việc triển khai lựa chọn nhà thầu phải căn cứ theo Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định này

Ảnh: LTT

Đối với hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được phát hành trước ngày 1/7/2014 thì thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009, Nghị định số 68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 của Chính phủ, Quyết định số 50/QĐ-TTg ngày 9/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ và các thông tư liên quan.

Trong thời gian từ ngày 1/7/2014 đến ngày NĐ 63 có hiệu lực thi hành, việc triển khai thực hiện lựa chọn nhà thầu phải căn cứ theo Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13. Trong thời gian NĐ 63 chưa có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP, Nghị định số 68/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn liên quan, nhưng bảo đảm không trái với quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.

Và kể từ ngày NĐ 63 có hiệu lực thi hành, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng, Nghị định số 68/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP và Quyết định số 50/QĐ-TTg ngày 9/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hết hiệu lực thi hành.

Đối với việc mua sắm sử dụng vốn nhà nước nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ công theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 1 của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, NĐ 63 nêu rõ, việc lựa chọn nhà thầu theo hình thức đặt hàng, giao kế hoạch được thực hiện theo quy định tại Nghị định 130/2013/NĐ-CP; các hình thức lựa chọn nhà thầu khác được thực hiện theo quy định tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và NĐ 63.

Theo các chuyên gia, việc ban hành NĐ 63 sẽ là cơ sở để chấm dứt mọi chồng chéo về pháp luật trong đấu thầu. Trước đây, do có quá nhiều văn bản cùng quy định về đấu thầu, dẫn đến sự mâu thuẫn, chồng chéo và thiếu thống nhất trong các quy định của Nhà nước đối với công tác đấu thầu nên cộng đồng doanh nghiệp – đối tượng chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực thi các chính sách pháp luật về đấu thầu. Và kể từ ngày NĐ 63 có hiệu lực thi hành (15/8/2014), việc triển khai lựa chọn nhà thầu phải căn cứ theo Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và NĐ 63. Đây chính là điều mong mỏi mà cộng đồng doanh nghiệp chờ đợi bấy lâu nay.

Cùng với Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, NĐ 63 sẽ tạo khung pháp lý đồng bộ, minh bạch và thống nhất chính sách đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước; tạo thuận lợi và nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước về đấu thầu.

Bích Thảo

Theo muasamcong.vn

Quốc hội thông qua Luật đầu tư công và Luật xây dựng sửa đổi

quoc hoi thong qua luat dau tu cong va luat xay dung Luật đầu tư công

Với 88,35% tỷ lệ đại biểu Quốc hội tán thành, sáng 18/6, Quốc hội đã thông qua Luật đầu tư công. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. 

quoc hoi thong qua luat dau tu cong va luat xay dung Luật đầu tư công

Quốc hội thông qua Luật đầu tư công với 88,35% đại biểu tán thành; thông qua Luật xây dựng (sửa đổi) với 79,72% đại biểu tán thành

Ảnh: Lê Tiên

Sẽ quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn hoạt động đầu tư công

Luật đầu tư công gồm 6 Chương, 108 Điều quy định việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quản lý nhà nước về đầu tư công; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công.

Thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư là nội dung đổi mới quan trọng nhất của Luật đầu tư công, nhằm ngăn ngừa sự tùy tiện, chủ quan, duy ý chí và đơn giản trong việc quyết định chủ trương đầu tư. Luật đầu tư công cũng quy định rõ tiêu chí xác định, phân loại dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư và quyết định các dự án đầu tư để bảo đảm thực hiện đầu tư công hiệu quả. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm và các chế tài xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân, cũng như người đứng đầu các tổ chức, cơ quan có liên quan đến quản lý đầu tư công.

Luật cũng đổi mới một cách căn bản công tác lập kế hoạch đầu tư, chuyển từ việc lập kế hoạch ngắn hạn, hàng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm. Đây là điểm đổi mới rất quan trọng trong quản lý đầu tư công và phù hợp thông lệ quốc tế.

Bên cạnh đó, Luật đầu tư công đã tăng cường và đổi mới công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn, coi đó là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác thẩm định chương trình, dự án đầu tư công.

Ngoài ra, để bảo đảm mục tiêu dự án đã được phê duyệt, nhằm khắc phục tình trạng chưa quan tâm đúng mức đến việc sử dụng và phát huy hiệu quả dự án sau khi đầu tư, Luật cũng bổ sung quy định về: bảo đảm chi phí duy tu, bảo dưỡng cho các công trình sau khi nghiệm thu, bàn giao, dẫn đến chương trình nhanh chóng xuống cấp; bổ sung các quy định về đánh giá kết thúc đầu tư và đánh giá tác động dự án, để làm rõ trách nhiệm của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và đặc biệt là các đơn vị tư vấn, như tư vấn đầu tư dự án, tư vấn thiết kế… Quy định về giám sát cộng đồng, hành vi bị cấm trong đầu tư công,… cũng được nêu rõ trong Luật đầu tư công.

So với dự thảo Luật đầu tư công được đưa ra lấy ý kiến tại phiên thảo luận ngày 24/5/2014, Luật đầu tư công được thông qua ngày 18/6 có một số điểm đã được tiếp thu, chỉnh sửa. Trong đó, về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư – một trong những nội dung còn nhiều ý kiến góp ý tại phiên thảo luận, Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu cho biết: Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) thống nhất, số dự án đầu tư công nhóm B và nhóm C của các địa phương rất lớn, khó có thể thông qua hết tại kỳ họp của hội đồng nhân dân. Ngoài ra, do sự khác nhau về vị trí địa lý, lợi thế so sánh và trình độ phát triển, nên các mục tiêu, định hướng về các công trình trọng điểm ở mỗi địa phương không giống nhau.

IMG

Luật xây dựng (sửa đổi) vừa được thông qua không quy định về lựa chọn nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng, vấn đề này đã quy định tại Luật đấu thầu 2013

Ảnh: Nhã Chi

Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, UBTVQH chỉnh sửa điểm b khoản 5 Điều 17 theo hướng hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư toàn bộ dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C do cấp mình quản lý. Tiêu chí dự án trọng điểm của địa phương do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương. UBTVQH cũng tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội chỉnh sửa khoản 6 Điều 17 giao ủy ban nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư các dự án do cấp mình quản lý. Về dự án nhóm A, UBTVQH chỉnh sửa điểm d khoản 2 Điều 23 về trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư nhóm A, theo đó hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho ý kiến về dự án đầu tư nhóm A trước khi ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư.

Luật xây dựng (sửa đổi) không quy định về lựa chọn nhà thầu

Cũng trong ngày 18/6, Quốc hội đã thông qua Luật xây dựng (sửa đổi) với tỷ lệ đại biểu tán thành là 79,72%. Luật gồm 10 Chương, 168 Điều được xây dựng trên cơ sở đánh giá tổng kết thực tiễn thi hành Luật xây dựng hiện hành và những yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quản lý hoạt động xây dựng; khắc phục được những hạn chế, tồn tại của Luật hiện hành, từ đó sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển.

Theo Báo cáo Giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật xây dựng (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét, thông qua của UBTVQH, về lựa chọn nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng, UBTVQH đã tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, chỉ đạo bỏ quy định tại Điều 109 về lựa chọn nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng. Như vậy, Luật xây dựng (sửa đổi) được thông qua ngày 18/6 sẽ không quy định về lựa chọn nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng, vấn đề này đã quy định tại Luật đấu thầu được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 6.

Về phân loại dự án đầu tư xây dựng, tại Phiên thảo luận về dự thảo Luật xây dựng (sửa đổi) ngày 24/5/2014, một số ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị xem lại việc phân loại các dự án đầu tư xây dựng cho đảm bảo phù hợp với dự thảo Luật đầu tư công. UBTVQH cũng đã tiếp thu ý kiến xác đáng của các đại biểu Quốc hội và trong Luật xây dựng (sửa đổi) đã thông qua, việc phân loại các dự án đầu tư xây dựng theo nhóm A, B, C được chỉnh sửa, bổ sung theo Luật đầu tư công.

Nguyệt Minh

Theo http://muasamcong.vn/danh-muc-tin/Detail/quoc-hoi-thong-qua-luat-dau-tu-cong-va-luat-xay-dung-sua-doi

Xếp hạng đối với hồ sơ dự thầu có giá đề nghị trúng thầu cao hơn giá gói thầu

không, xếp hạng, hồ sơ dự thầu, đối với, HSDT, giá đề nghị trúng thầu, cao hơn, giá gói thầu

Có hay không xếp hạng đối với HSDT có giá đề nghị trúng thầu cao hơn giá gói thầu?

Hỏi:

Trong một cuộc đấu thầu đối với gói thầu xây lắp có 5 nhà thầu tham gia. Tại bước đánh giá sơ bộ chỉ có 2 nhà thầu M và N vượt qua để được đánh giá chi tiết.

Đánh giá về mặt kỹ thuật, cả 2 nhà thầu đều đạt mức yêu cầu tối thiểu căn cứ tiêu chuẩn đánh giá (TCĐG) sử dụng thang điểm nêu trong hồ sơ mời thầu (HSMT). Hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu M và N đều được sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch nhưng đều nằm trong phạm vi cho phép. Giá đánh giá nêu trong TCĐG là giá dự thầu sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch.

Căn cứ kết quả đánh giá về mặt tài chính thì nhà thầu M có giá dự thầu sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch thấp hơn nên được xếp thứ 1, đồng thời giá này không vượt giá gói thầu nên được bên mời thầu (BMT) đề nghị trúng thầu. Nhà thầu còn lại (nhà thầu N) có giá dự thầu sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch cao hơn giá tương ứng của nhà thầu M, song lại cao hơn cả giá gói thầu. Do vậy, BMT không xếp hạng nhà thầu N.

Cách xử lý của BMT có phù hợp với quy định trong đấu thầu không?

thông báo mời thầu, thong bao moi thau không, xếp hạng, hồ sơ dự thầu, đối với, HSDT, giá đề nghị trúng thầu, cao hơn, giá gói thầu

Trả lời:

Theo Luật đấu thầu (Điều 4 khoản 2), đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu, đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu. Có trường hợp kết quả đấu thầu chỉ có 1 nhà thầu, có khi có vài nhà thầu (nếu gói thầu gồm nhiều phần độc lập, riêng biệt và trong HSMT cho phép nhà thầu chào theo từng phần) và hãn hữu qua đấu thầu không chọn được nhà thầu trúng thầu. Việc quyết định về kết quả đấu thầu được chuyển từ người có thẩm quyền (quy định trong Luật đấu thầu năm 2005) sang chủ đầu tư (Luật số 38/2009/QH12) nhưng phải dựa trên Báo cáo về kết quả đấu thầu của BMT và Báo cáo thẩm định về kết quả đấu thầu của đơn vị, tổ chức được giao nhiệm vụ thẩm định. Tuy nhiên, bên cạnh quyết định nhà thầu trúng thầu thì chủ đầu tư còn phải phê duyệt danh sách xếp hạng nhà thầu (quy định tại Điều 61 khoản 4 Luật đấu thầu). Chính vì vậy, trong Mẫu HSMT (chẳng hạn Mẫu HSMT Xây lắp ban hành kèm theo Thông tư 01/2010/TT-BKH, ngày 6/1/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại Mục 28 quy định: việc so sánh, xếp hạng HSDT là căn cứ vào giá đánh giá, cụ thể quy định “Giá đánh giá được xác định trên cùng một mặt bằng các yếu tố kỹ thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác để so sánh, xếp hạng HSDT”. Một nhà thầu đã được xác định giá đánh giá thì phải được xếp hạng bởi lẽ HSDT của họ đã vượt qua mọi bước đánh giá (đánh giá sơ bộ, đánh giá về mặt kỹ thuật, sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch). Nói khác đi, nhà thầu được xác định giá đánh giá là nhà thầu thuộc 1 trong các ứng cử viên để được đề nghị trúng thầu. Ngược lại, nhà thầu không được xác định giá đánh giá là nhà thầu không còn cơ hội để được đề nghị trúng thầu. Đây là thước đo về chất lượng đối với một HSDT. Việc xếp hạng nhà thầu (trên cơ sở giá đánh giá trong trường hợp này) còn liên quan tới một tình huống có thể xảy ra trong trường hợp việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng đối với nhà thầu xếp thứ 1 không thành công thì mới có cơ sở để chủ đầu tư xem xét, cho phép mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo vào thương thảo, hoàn thiện hợp đồng như quy định tại khoản 3 Điều 42 Luật đấu thầu được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 38/2009/QH12.

Điều cần lưu ý là việc xếp hạng nhà thầu và điều kiện đề nghị trúng thầu là khác nhau. Nhà thầu được xếp hạng thứ nhất mới là điều kiện cần, còn nếu nhà thầu này có giá đề nghị trúng thầu (giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch) không vượt giá gói thầu mới đủ điều kiện để được đề nghị trúng thầu. Do vậy, nhà thầu N được xếp hạng sau nhà thầu M và việc giá dự thầu sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch của nhà thầu N vượt giá gói thầu sẽ không ảnh hưởng tới việc xếp hạng của nhà thầu.

Tóm lại, kết quả đấu thầu đối với một gói thầu cần được hiểu gồm 2 nội dung:

- Danh sách xếp hạng nhà thầu.

- Nhà thầu được trúng thầu (kèm theo các nội dung liên quan như giá trúng thầu, hình thức hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng);

Thực tế cho thấy trong khá nhiều trường hợp BMT thường bỏ sót nội dung danh sách xếp hạng nhà thầu khi trình chủ đầu tư về kết quả đấu thầu. Đây là điều cần sớm được khắc phục để có cơ sở xử lý một khi việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng với nhà thầu xếp hạng thứ nhất không thành công.

TS. Nguyễn Việt Hùng

Điều kiện tham gia Tổ chuyên gia đấu thầu

Hỏi:

Chủ đầu tư thành lập Tổ chuyên gia đấu thầu (TCGĐT) (gồm 5 thành viên) và có yêu cầu Phòng Thanh tra bảo vệ cử một nhân viên tham gia TCGĐT để giám sát việc xét thầu.

Xin hỏi nhân viên thanh tra có được là thành viên của TCGĐT và được quyền tham gia xét thầu không hay chỉ giám sát sự làm việc của TCGĐT?

Trả lời:

Việc thành lập TCGĐT thuộc thẩm quyền quyết định của chủ đầu tư (Điều 61 Luật đấu thầu). Tuy nhiên điều kiện đối với từng cá nhân là thành viên TCGĐT được quy định tại Điều 9 Luật Đấu thầu. Theo đó, thành viên TCGĐT phải có trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu, am hiểu các nội dung cụ thể của gói thầu, có tối thiểu 3 năm công tác trong lĩnh vực liên quan tới gói thầu và phải có chứng chỉ đấu thầu (theo quy định tại Thông tư 10/2010/TT-BKH, ngày 15/5/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Như vậy nếu nhân viên Phòng Thanh tra bảo vệ có đủ các điều kiện quy định tại Điề 9 Luật Đấu thầu thì hoàn toàn đủ tư cách để chủ đầu tư cử vào TCGĐT. Khi đó TCGĐT cần thực hiện theo quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 63 Luật Đấu thầu. Trong mẫu báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) ban hành kèm theo Thông tư của Bộ KH&ĐT (thông tư 09/2010/TT-BKH, Thông tư 15/2010/TT-BKH) thì từng thành viên TCGĐT phải ký xác nhận vào Báo cáo đánh giá HSDT để trình chủ đầu tư và để phục vụ việc thẩm định tiếp theo.

Trường hợp, nhân viên Phòng Thanh tra bảo vệ, không đủ điều kiện là một thành viên TCGĐT chẳng hạn không có chuyên môn liên quan tới gói thầu thì không thể tham gia Tổ này để đánh giá HSDT bởi lẽ sẽ không có trình, không đủ năng lực đánh giá các HSDT, có thể làm sai lệch kết quả, tạo ra sự công bằng. Nếu chỉ với chức năng giám sát các hoạt động của TCGĐT thì chủ đầu tư nên giao nhiệm vụ riêng cho nhân viên Phòng Thanh tra bảo vệ mà không đưa vào TCGĐT để đảm bảo các thành viên của Tổ có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 9 của Luật Đấu thầu.

TS. Nguyễn Việt Hùng

 

 

Liên danh dự thầu giữa Công ty mẹ và công ty con

Hỏi:

Khi tham gia đấu thầu trường hợp công ty mẹ có 71% vốn cổ phần trong công ty con lien danh với công ty để dự thầu thì lien danh này có đủ tư cách tham gia đấu thầu không? Trong thoả thuận liên danh, Công ty con được uỷ quyền đứng đầu liên danh tham gia đấu thầu và ký kết hợp đồng trong trường hợp thắng thầu có được không?

Trả lời:

Đầu tiên chúng ta cần thống nhất với nhau về 2 thuật ngữ “Công ty mẹ” và “Công ty con”.

Theo Điều 146 Luật doanh nghiệp thì Công ty mẹ cũng như Công ty con đều là doanh nghiệp được hình thành theo Luật doanh nghiệp và có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.

Còn theo Luật Đấu thầu, Công ty mẹ cũng như Công ty con đều có tư cách hợp lệ của nhà thầu khi tham dự đấu thầu nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại điều 7. Đã là một nhà thầu có tư cách hợp lệ thì có thể tham gia đấu thẩu với tư cách là một nhà thầu độc lập hoặc với tư cách là một thành viên trong liên danh. Nội dung này được quy định ở Điều 64 Luật Đấu thầu.

Với các phân tích như nêu trên, đối với trường hợp mà bạn nêu ra thì việc liên danh hình thành giữa Công ty mẹ và Công ty con để tham gia đấu thầu là hoàn toàn phù hợp với các quy định hiện hành về đấu thầu

Tuy nhiên, đối với thoả thuận liên danh giữa Công ty mẹ và Công ty con trong tình huống của bạn là có vấn đề cần bàn, cụ thể như sau:

1. Khi tham dự thầu với tư cách là nhà thầu liên danh thì trong hồ sơ dự thầu (HSDT) phải có thoả thuận liên danh được ký giữa đại diện hợp pháp của các thành viên liên danh. Trong các mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) do Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành đều có quy định về mẫu thoả thuận liên danh (thường là Mẫu số 3). Theo đó, các thành viên trong liên danh thống nhất phân công trách nhiệm cho thành viên đứng đầu liên danh và trách nhiệm cho từng thành viên còn lại. Trong thoả thuận liên danh cần ghi rõ trách nhiệm cụ thể, chẳng hạn thành viên đứng đầu liên danh có thể được giao làm đại diện của liên danh để ký các văn bản (như: đơn dự thầu, đơn kiến nghị, văn bản đề nghị làm rõ HSMT, văn bản làm rõ HSDT), đại diện cho liên danh tham gia quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, trừ việc ký hợp đồng với Chủ đầu tư.

2. Trở lại nội dung thoả thuận liên doanh giữa Công ty mẹ và Công ty con trong tình huống của bạn thấy như sau:

- Việc công ty con được phân công đóng vai trò là thành viên đứng đầu liên danh để đại diện cho liên danh trong suốt quá trình tham gia đấu thầu là chuyện bình thường, hợp lệ. Đây là việc trong nội bộ giữa các thành viên tham gia liên danh.

- Việc giao cho công ty con thay mặt liên danh ký hợp đồng với chủ đầu tư trong trường hợp liên danh trúng thầu thì lại không phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu (Điều 46), cụ thể là: Trường hợp là nhà thầu liên danh, trong hợp đồng với chủ đầu tư phải có chữ ký của tất cả các thành viên tham gia liên danh. Nội dung này cũng không phù hợp với mẫu thoả thuận liên danh đã có trong HSMT, theo đó quy định là liên danh có thể phân công cho thành viên đứng đầu thực hiện nhiều việc nhưng trừ việc ký hợp đồng.

Đã là quy định thì mọi người phải tuân thủ. Đối với một gói thầu thì HSMT là căn cứ pháp lý, là quy định bắt buộc các nhà thầu phải tuân thủ.

Như vậy, việc nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định từ Luật, nghị định đến các thông tư về đấu thầu là hết sức cần thiết đối với mỗi người tham gia đấu thầu. Trong một gói thầu cụ thể nhà thầu còn phải hiểu thấu đáo các yêu cầu cụ thể trong HSMT. Khi thấy có những nội dung chưa rõ, chưa cụ thể trong HSMT thì nhà thầu nên và có quyền yêu cầu làm rõ HSMT (Điều 34 Luật Đấu thầu).

Rõ rang trong tình huống đang bàn nếu hai công ty (mẹ và con) chưa hiểu các quy định trong đấu thầu, chưa nghiên cứu để thực hiện theo đúng yêu cầu trong HSMT thì có thể “vô tình” vi phạm khi tham dự thầu.

Nhiều công ty xây dựng bị Bộ GTVT cấm tham gia đấu thầu

Thông báo mời thầu tuyen ong cap nuoc

Ít nhất có 10 công ty xây dựng nằm trong “danh sách đen” bị Bộ Giao thông vận tải (GTVT) cấm thi công các công trình của ngành này…

Thông tin trong một kết luận của Thanh tra Bộ GTVT mới đây cho thấy, nhiều nhà thầu thực hiện thi công các dự án đường Hồ Chí Minh, các dự án thuộc Sở GTVT Cần Thơ và Lai Châu đã bị cấm đấu thầu, không xem xét chỉ định thầu, đồng thời yêu cầu các cơ quan chức trách phong tỏa tài khoản của các nhà thầu này. Đặc biệt, 2 tư vấn giám sát hiện trường và 1 kỹ sư thường trú cũng bị đình chỉ công tác vì dính bê bối.

Tại miền Bắc, nhiều doanh nghiệp có truyền thống trong ngành xây dựng chính thức được Bộ GTVT đưa vào “danh sách đen” như Công ty COMA 3, Công ty Cổ phần Tập đoàn xây dựng Thăng Long, Công ty Cổ phần Cơ khí xây dựng công trình 623.

Hai doanh nghiệp khác là Công ty Thành An 119 và Công ty Cổ phần Xây dựng Vinashin cũng bị cấm đấu thầu vì thi công đường nối Vị Thanh – Cần Thơ không đảm bảo chất lượng.

Đặc biệt, hàng loạt nhà thầu thực hiện thi công các dự án do Sở GTVT Cần Thơ quản lý đã bộc lộ nhiều sai phạm. Trong đó, riêng Công ty Cổ phần Bê tông 620 Châu Thới, Công ty Thành An 119 bị cấm đấu thầu trong vòng 2 năm.

Ngoài hai “đại gia” xây dựng này, do thực hiện công trình không đảm bảo, nhiều tên tuổi trong nghề như Công ty Cổ phần Xây dựng Vinashin, Công ty Cổ phần TRACO Hậu Giang, Công ty TNHH Thương mại dịch vụ xây dựng Mạnh Hà, Công ty TNHH Xây dựng giao thông Hoàng Mai, Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng công trình Hoàng Nguyên, Công ty Cổ phần Kiến trúc và Xây dựng thương mại Mekong miền Tây, Công ty TNHH Tư vấn & Xây dựng công trình 747, Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế xây dựng Nam Việt… cũng bị cấm đấu thầu do vi phạm.

Việc cấm thầu đối với những doanh nghiệp nói trên xuất phát từ cuộc thanh tra trước đó của ngành GTVT. Theo đó, những “đại gia” này được xác định năng lực có hạn, các công trình thi công không đảm bảo tiến độ hoặc không có trách nhiệm trong thực hiện hợp đồng, không xuất trình được đầy đủ các biên bản, giấy tờ, thủ tục thanh tra yêu cầu. Việc “cấm cửa” này được Bộ GTVT thực hiện ngay từ năm 2014.

Chất lượng công trình đang được ngành giao thông đặt lên vị trí trọng yếu của ngành này trong suốt thời gian qua. Bên cạnh việc đốc thúc các công trình hoàn thành đúng tiến độ, trong các cuộc thị sát gần đây, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng cho rằng không được hy sinh chất lượng khi chạy theo tiến độ.

Thông tin cấm cửa nhà thầu kém năng lực được Bộ GTVT đưa ra trong bối cảnh ngành này đang đối mặt với những công trình trọng điểm có dấu hiệu kém chất lượng. Trong khi dư luận chưa hết ngạc nhiên vì các tuyến quốc lộ được đầu tư hàng nghìn tỷ đồng xuất hiện vết hằn lún bánh xe thì ngay trong những ngày đầu năm 2014 nhưng công trình cầu Vĩnh Tuy xuất hiện nhiều vết nứt kéo dài trên trụ cầu.

Và mới đây nhất, cây cầu dài nhất miền Trung là cầu Đà Rằng (Phú Yên), dù mới đưa vào sử dụng trong thời gian chưa dài (10 năm) cũng đứng trước nguy cơ bị sập gây hoang mang dư luận. Đây là cây cầu do Ban Quản lý dự án 18 (PMU 18) thuộc Bộ GTVT làm chủ đầu tư, với kinh phí lên đến 420 tỉ đồng.

Dự kiến tới đây, danh tính của các nhà thầu bê bối trong thi công sẽ được Bộ GTVT công khai.

Theo Việt Hưng

Phá Luật Việt Nam

Gói thầu quy mô nhỏ trở thành “Quy mô lớn”

Hỏi:

Chúng tôi có 1 tình huống sau: Theo kế hoạch đấu thầu (KHĐT) được duyệt giá gói thầu cho gói mua sắm hàng hoá (MSHH) là 4,9 tỷ đồng, áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước, quy mô nhỏ. Theo quy định đối với gói thầu quy mô nhỏ thì không cần phê duyệt danh sách nhà thầu đạt kỹ thuật, không cần nêu tiêu chuẩn đưa về cùng một mặt bằng để xác định giá đánh giá, bảo đảm thực hiện hợp đồng được yêu cầu ở mức là 3%. Các nội dung này đã được nêu trong hồ sơ mời thầu (HSMT). Sauk hi mở thầu, giá dự thầu sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch của các nhà thầu (đã đạt kỹ thuật) đều vượt giá gói thầu. Chủ đầu tư xử lý tình huống này theo Khoản 6, Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP. Theo đó, yêu cầu các nhà thầu chào lại giá, đồng thời điều chỉnh giá gói thầu. Giá dự thầu sau khi chào lại giá của các nhà thầu đều cao hơn 5 tỷ đồng và chủ đầu tư đã điều chỉnh giá gói thầu lên trên 5 tỷ đồng. Vậy xin hỏi các thủ tục tiếp theo của việc đánh giá HSDT và ký hợp đồng sẽ tiếp tục thực hiện theo nội dung trong HSMT đối với gói quy mô nhỏ hay chuyển sang thực hiện theo quy định đối với gói “quy mô lớn”? Chẳng hạn có cần phê duyệt danh sách nhà thầu đạt kỹ thuật? Có cần điều chỉnh giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng từ 3% giá trị hợp đồng thành 10% giá trị hợp đồng không?

Trả lời:

Trong Luật đầu thầu chỉ sử dụng thuật ngữ “gói thầu” nói chung và các quy định trong Luật là cho mọi gói thầu không kể quy mô. Tuy nhiên trong thực tế là rất đa dạng (có trường hợp thuộc lĩnh vực dịch vụ tư vấn (DVTV), có lĩnh vực thuộc trường hợp mua sắm hàng hoá (MSHH) hoặc xây lắp) và có quy mô khác nhau. Một trong các tiêu chí khác nhau về quy mô giữa các gói thầu là giá gói thầu. Chẳng hạn gói thầu nhà máy lọc dầu lên tới vài tỷ USD, có gói thầu xây dựng một con đường liên thôn thuộc chương trình 135 chỉ vài trăm triệu đồng. Sự khác nhau quá lớn như vậy mà sử dụng cùng một quy trình, thủ tục bao gồm cả nội dung về thời gian, bảo đảm dự thầu, thực hiện hợp đồng, tiêu chuẩn đánh giá,… thì sẽ không có hiệu quả bởi lẻ một quy định phù hợp với trường hợp này lại không phù hợp với trường hợp khác. Chính đó là lý do mà trong Nghị định 85/2009/NĐ-CP, chính phủ cho phép hình thành khái niệm gói thầu quy mô nhỏ (Điều 33). Theo đó, gói thầu quy mô nhỏ, đối với MSHH có giá gói thầu ≤ 5 tỷ đồng, đối với xây lắp có giá gói thầu ≤ 8 tỷ đồng (không áp dụng cho gói DVTV). Đồng thời ban hành kèm theo các quy định về cách thức và thời gian thực hiện, về giá trị đảm bảo dự thầu và đảm bảo thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, Bộ KH&ĐT theo chức năng của mình đã ban hành mẫu HSMT xây lắp quy mô nhỏ (Thông tư 02/2010/TT-BKH, ngày 09/1/2010) tạo thuận lợi cho việc tổ chức lựa chọn nhà thầu.

Như vậy giá gói thầu trong KHĐT được duyệt là cơ sở để xác định rằng gói thầu thuộc quy mô lớn hay quy mô nhỏ để từ đó xác định quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu sao cho phù hợp.

Qua thông tin của bạn thì giá gói thầu (gói MSHH) trong KHĐT là 4,9 tỷ đồng do đó gói thuộc gói quy mô nhỏ và những nội dung đã đưa ra trong HSMT là phù hợp quy định hiện hành đối với gói quy mô nhỏ như không sử dụng giá đánh giá để so sánh, xếp hạng nhà thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng yêu cầu ở mức 3% giá hợp đồng… Tuy nhiên, khi đánh giá về mặt TC/TM thì xuất hiện tình huống là các nhà thầu vượt qua đánh giá về mặt kỹ thuật đều có giá dự thầu sau sửa lỗi, sau hiệu chỉnh sai lệch (chính là giá đề nghị trúng thầu) đều vượt giá gói thầu phê duyệt trong KHĐT là 4,9 tỷ đồng. Đây là một tình huống phải xử lý để đạt được điều kiện trúng thầu. Tại khoản 6 Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP cho phép áp dụng một trong ba giải pháp để xử lý không phụ thuộc vào gói thầu là quy mô lớn hay quy mô nhỏ. Trong tình huống của bạn, chủ đầu tư đã cho phép áp dụng điểm b khoản 6 Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP dựa trên phân tích về sự không phù hợp của giá gói thầu, do đó, cần điều chỉnh giá gói thầu song song với việc yêu cầu các nhà thầu vượt qua đánh giá về mặt kỹ thuật chào lại giá để hy vọng chọn được một nhà thầu đáp ứng điều kiện trúng thầu là: giá đề nghị trúng thầu sau khi chào lại giá không vượt giá gói thầu (đã điều chỉnh).

Cách làm mà bạn nêu ra hoàn toàn phù hợp với quy định hiện hành. Nhưng điều bạn phân vân là với giá gói thầu điều chỉnh lại vượt 5 tỷ đồng làm cho gói thầu không còn là quy mô nhỏ nữa thì có cần điều chỉnh theo các quy định đối với gói thầu quy mô lớn không?

Đây thực sự là một tình huống thú vị và xin đưa ra ý kiến xử lý như sau:

Sự thay đổi giá gói thầu xảy ra trong quá trình đánh giá HSDT (sau khi đã hoàn thành đánh giá về mặt kỹ thuật) và căn cứ trên HSMT đã phát hành, chứ không phải trong quá trình xây dựng KHĐT. HSMT là căn cứ pháp lý cho việc nhà thầu chuẩn bị HSDT, cho việc đánh giá HSDT để lựa chọn nhà thầu trúng thầu và cũng là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký hợp đồng. HSMT đã bao gồm các nội dung phù hợp với các quy định dành cho gói quy mô nhỏ trong tình huống của bạn. Do vậy, HSMT đã phát hành và đã đóng thầu thì toàn bộ nội dung HSMT phải được giữ nguyên để đảm bảo là căn cứ pháp lý nhằm lựa chọn Nhà thầu theo đúng nghĩa của nó. Việc xử lý tình huống vượt giá gói thầu là dựa trên Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP không phụ thuộc gói thầu lớn hay nhỏ. Như vậy, mọi việc trong quá trình tổ chức đấu thầu, đánh giá, xử lý tình huống đối với gói thầu của bạn đã theo quy định. Do vậy, sau khi có kết quả chào lại giá, có kết quả đấu thầu thì bạn tiếp tục thực hiện theo trình tự, cụ thể tiến hành thẩm định kết quả lựa chọn, phê duyệt kết quả lựa chọn, thương thảo, hoàn thiện hợp đồng với nhà thầu trúng thầu và ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn. Việc xử lý tình huống vượt giá gói thầu là để có đủ cơ sở cho quyết định trúng thầu xảy ra trong quá trình lựa chọn nhà thầu, chứ không phải trở lại từ đầu khi chưa phát hành HSMT.

Vấn đề còn lại là trị giá bảo đảm thực hiện hợp đồng. Về vấn đề này có 2 phương án:

a. Trường hợp thấy rằng việc thực hiện hợp đồng là đủ tính khả thi thì giữ nguyên mức bảo đảm thực hiện hợp đồng là 3% giá hợp đồng như nêu trong HSMT vì đây là căn cứ pháp lý để áp dụng.

b. Trường hợp thấy có những rủi ro trong thực hiện hợp đồng không phụ thuộc gói thầu là quy mô lớn hay quy mô nhỏ thì trong hợp đồng, chủ đầu tư tuỳ theo năng lực, kinh nghiệm và uy tín của nhà thầu yêu cầu nhà thầu nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng cao hơn mức đã nêu trong HSMT.

Về bảo đảm thực hiện hợp đồng, tại điều 55 Luật đấu thầu quy định với mọi gói thầu yêu cầu bảo đảm thực hiện hợp đồng tối đa là 10% nghĩa là không quy định giới hạn dưới thành thử trong trường hợp của bạn, sau khi đã lựa chọn được nhà thầu mà vẫn giữ yêu cầu bảo đảm thực hiện hợp đồng là 3% giá hợp đồng thì cũng không phải là sai so với quy định của Luật.

Tóm lại, khi thực hiện việc lựa chọn nhà thầu, bạn cần lưu ý giữa các quy định nói chung và trình tự thực hiện, phân biệt các nguyên tắc và việc xử lý tình huống. Luật và các văn bản liên quan nhìn chung là chặt chẽ, cứng nhắc song cũng có những quy định tạo ra sự linh hoạt nhất định trong xử lý.

TS. Nguyễn Việt Hùng